Hiển thị các bài đăng có nhãn cay-thuoc-vi-thuoc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn cay-thuoc-vi-thuoc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 1 tháng 7, 2014

Dâu tằm trị ho, cao huyết áp, đau khớp

Dược liệu dâu tằm bao gồm nhiều bộ phận của cây dâu: lá (tang diệp), cành (tang chi), quả (tang thầm), vỏ rễ (tang bạch bì) và tầm gửi cây dâu (tang ký sinh).
Tác dụng
Cao nước lá và thân cây dâu ức chế một số vi khuẩn gram dương và men. Vỏ rễ và lá dâu có tác dụng gây hạ huyết áp, giãn mạch ngoại biên và an thần. Các hoạt chất moracemin A, B và D từ vỏ rễ dâu có tác dụng chống tăng huyết áp trên thực nghiệm. Cao chiết và hoạt chất moran A từ vỏ rễ dâu có tác dụng hạ đường huyết ở động vật được gây đái tháo đường bằng alloxan.
Công dụng
Vỏ rễ dâu điều trị ho có đờm, hen, ho ra máu, sốt, tăng huyết áp, trẻ em ho gà, phù thũng, bụng trướng to, tiểu tiện không thông. Ngày dùng 4 – 12g, có khi đến 20 – 40g, dạng thuốc sắc hay uống bột.
Lá dâu chữa cảm mạo, sốt nóng, ho, viêm họng, đau răng, nhức đầu, mắt đỏ, phát ban, tăng huyết áp, mất ngủ. Ngày dùng 4 – 12g, dạng thuốc sắc.
Cành dâu chữa phong thấp, đau nhức các khớp xương, cước khí, sưng lở, chân tay co quắp. Ngày dùng 6 – 12g, có khi đến 40 – 60g, dưới dạng thuốc sắc.
Quả dâu chữa đái tháo đường, lao hạch, mắt mờ, ù tai, thiếu máu, đau khớp xương, kém ngủ, râu tóc bạc sớm, táo bón. Uống lâu khỏe người, ngủ ngon giấc, thính tai sáng mắt, trẻ lâu. Quả dâu vắt lấy nước cô thành cao mềm, ngày uống 12 – 20g. Sirô quả chín bôi chữa đau họng, loét mồm, lở lưỡi.
Tang ký sinh chữa đau lưng, đau mình, chân tay tê bại, động thai, sau khi đẻ ít sữa. Ngày dùng 12 – 20g, dạng thuốc sắc.

Bài thuốc có dâu tằm
1. Chữa viêm phế quản cấp và đợt cấp của viêm phế quản mạn tính:
a. Tang diệp 16g; tang bạch bì, rau má, mỗi vị 12g; rễ cây chanh, bạc hà, cúc hoa, lá hẹ, rễ chỉ thiên, mỗi vị 8g, bán hạ chế 6g, xạ can 4g. Sắc uống ngày một thang.
b. Tang diệp 12g; tang bạch bì, hạnh nhân, tiền hồ, chi tử, sa sâm, mỗi vị 8g, cam thảo 6g, bối mẫu 4g. Sắc uống ngày một thang.
c. Tang diệp, cúc hoa, liên kiều, ngưu bàng tử, hạnh nhân, tiền hồ, mỗi vị 12g, cát cánh 8g, bạc hà 6g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày một thang.
2. Chữa viêm phế quản cấp tính: Tang bạch bì 12g, thạch cao 16g; mạch môn, lá tre, sa sâm, thiên môn, hoài sơn, mỗi vị 12g, lá hẹ 8g. Sắc uống ngày một thang.
3. Chữa hen nhiệt:
a. Tang bạch bì, thiên môn, mạch môn, ô mai, bách bộ, tiền hồ, thạch cao, mỗi vị 12g; bán hạ chế 8g, trần bì 6g. Sắc uống ngày một thang.
b. Tang bạch bì 20g; hạnh nhân, hoàng cầm, mỗi vị 12g, bán hạ chế 8g, ma hoàng 6g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày một thang.
4. Chữa khản tiếng, nói không ra tiếng:
a. Tang diệp, tang bạch bì, kinh giới, địa cốt bì, mỗi vị 12g; hạt tía tô, bán hạ chế, mỗi vị 8g, trần bì 6g. Sắc uống ngày một thang.
b. Tang bạch bì, lá tre, trúc nhự, mỗi vị 12g, thổ bối mẫu 10g; thanh bì, cát cánh, mỗi vị 8g, nam tinh chế 6g, gừng 4g. Sắc uống ngày một thang.
5. Chữa ho khan nhiều, khản tiếng: Tang bạch bì 8g, sa sâm, thiên môn, mạch môn, bố chính sâm, mỗi vị 12g; ngưu bàng tử, sinh địa, địa cốt bì, mỗi vị 8g, mẫu đơn bì 6g. Sắc uống ngày một thang.
6. Chữa ho ra máu: Vỏ rễ dâu, thiên môn, cúc hoa, cỏ nhọ nồi, mạch môn, quả dành dành, sinh địa, trắc bách diệp, mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang.
7. Chữa ho gà: Vỏ rễ dâu, mạch môn, mỗi vị 12g; bách bộ, rau sam, húng chanh, mỗi vị 10g. Sắc uống hoặc chế thành sirô uống ngày một thang.
8. Chữa tăng huyết áp:
a. Tang ký sinh 16g; chi tử, câu đằng, ngưu tất, ý dĩ, mã đề, mỗi vị 12g; xuyên khung, trạch tả, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.
b. Tang ký sinh 20g, rau má 30g; hoa hòe, lá tre, cỏ tranh, mỗi vị 20g; cỏ nhọ nồi, hạt muồng, mỗi vị 16g, ngưu tất 12g, hạ khô thảo 10g, tâm sen 8g. Sắc uống ngày một thang.
9. Chữa tăng huyết ở người cao tuổi: Tang ký sinh 12g, mẫu lệ 20g, hà thủ ô 16g; quả dâu chín, kỷ tử, sinh địa, ngưu tất, mỗi vị 12g, trạch tả 8g. Sắc uống ngày một thang.
10. Chữa tăng huyết áp và tăng cholesterol máu: Tang ký sinh, câu đằng, hòe hoa, thiên ma, ngưu tất, ý dĩ, mỗi vị 16g, bạch truật 12g, phục linh 8g; bán hạ chế, cam thảo, trần bì, mỗi vị 6g. Sắc uống ngày một thang.
11. Chữa xơ cứng động mạch vành: Tang ký sinh 16g, hà thủ ô 20g; kỷ tử, hoàng tinh, mỗi vị 16g; thục địa, thạch hộc, quy bản, mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang.
12. Chữa viêm khớp dạng thấp: Tang chi 20g, thạch cao 40g, kim ngân 20g; tri mẫu, hoàng bá, phòng kỷ, mỗi vị 12g, thương truật 8g, quế chi 6g. Sắc uống ngày một thang.
13. Chữa đau lưng cấp do co cứng các cơ: Tang ký sinh, khương hoạt, ngưu tất, mỗi vị 12g, phục linh 10g; quế chi, thương truật, mỗi vị 8g, can khương 6g. Sắc uống ngày một thang.
14. Chữa đau dây thần kinh hông: Cành dâu, thổ phục linh, thiên niên kiện, ngưu tất, sinh địa, mỗi vị 12g; cà gai leo, đỗ đen sao, lá lốt, mỗi vị 10g. Sắc uống ngày một thang.
15. Chữa cảm sốt: Lá dâu 10g; hạnh nhân, cát cánh, mỗi vị 8g; liên kiều, rễ sậy, mỗi vị 6g; cúc hoa, bạc hà, cam thảo, mỗi vị 4g. Sắc uống ngày một hoặc hai thang.
16. Chữa rụng tóc: Vỏ rễ dâu giã giập, ngâm nước rồi đun sôi nửa giờ, chắt lấy nước, để nguội gội đầu.

Theo Tienphong

Thứ Hai, 30 tháng 6, 2014

Rau sam thanh nhiệt, trị lỵ

SKĐS-Rau sam là loại rau rất thông dụng ở nước ta, mọc hoang và rất rẻ tiền. Rau sam giàu chất dinh dưỡng, vitamin và khoáng chất. Tuy nhiên ít người biết tác dụng chữa bệnh của nó. Rau sam chứa nước, protein, chất béo, carbohydrate, Ca, P; Fe; vitamin A, B1, C; các sắc tố nhóm betacyanidin... Theo Đông y, rau sam vị chua, tính lạnh, vào đại tràng, can và thận. Có tác dụng thanh nhiệt giải độc, mát máu, tán huyết tiêu thũng. Dùng cho hội chứng lỵ, viêm đường tiết niệu, sỏi đường tiết niệu (đái dắt, đái buốt, đái ra máu và cặn sỏi), mụn nhọt lở ngứa.

Rau sam
Rau sam
Một số cách dùng rau sam làm thuốc:
Chữa lỵ:
Bài 1: rau sam 100g, cỏ sữa nhỏ lá 100g, sắc uống trong ngày; nếu đi ngoài ra máu, thêm cỏ nhọ nồi 20g, rau má 20g.
Bài 2: rau sam 20g, cỏ nhọ nồi 20g, lá nhót 20g, búp ổi 20g. Phơi hay sấy khô, tán thành bột mịn, làm viên hoàn. Ngày uống 2 - 3 lần, mỗi lần 15g.
Bài 3: rau sam 50g, cỏ sữa nhỏ lá 50g, chỉ xác 20g, binh lang 20g, lá trắc bá 20g, vỏ rụt 20g, hoa hòe 20g. Sấy khô, tán bột. Uống 20g với nước vối.
Bài 4: Cháo rau sam: rau sam tươi 100 - 200g, gạo tẻ 90g cho thêm nước nấu cháo thêm chút muối, ăn khi đói. Dùng cho các bệnh nhân có hội chứng lỵ xuất huyết.
Bài 5: Rau sam xào: rau sam 250g, chiên với dầu thực vật, thêm chút muối ăn. Dùng cho các bệnh nhân có hội chứng lỵ.
Rau sam xào
Rau sam xào
Chữa đái buốt, đái ra máu:
Nước ép rau sam: rau sam 100g, rửa sạch, để ráo, giã vắt ép lấy nước, thêm nước sôi để nguội vào bã vắt lấy 100ml, thêm ít đường trắng khuấy đều. Ngày làm 3 lần. Dùng cho các trường hợp viêm sỏi đường tiết niệu, mụn nhọt, lở ngứa.
Nước ép rau sam hòa mật: Nước ép rau sam 60 - 100ml đun vừa sôi, thêm 20ml mật khuấy đều cho uống. Dùng cho sản phụ sau đẻ đau quặn bụng, tiểu dắt, buốt.
Chữa xích bạch đới: rau sam 100g, lòng trắng trứng gà 2 quả. Rau sam giã nát vắt lấy nước, thêm lòng trắng trứng vào; hấp chín. Ăn trong ngày, dùng liền 3 - 5 ngày.
Chữa chốc đầu trẻ em: Nước ép rau sam cô đặc, thêm ít mỡ lợn, trộn đều. Bôi lên chỗ chốc nhiều lần trong ngày.
Kiêng kỵ: Người bị hư hàn tiết tả (tiêu chảy) không dùng.

BS. Tiểu Lan

Thăng ma, chủ vị trị cảm nhiệt

SKĐS-Thăng ma là thân rễ của cây thăng ma, Bắc thăng ma hoặc Tây thăng ma (Cimicifuga sp.). Theo Đông y, thăng ma vị ngọt, cay, hơi đắng, tính hơi hàn. Vào các kinh phế, tỳ, vị và đại trường. Có tác dụng giải biểu thấu chẩn, thanh nhiệt giải độc, thăng dương cử hãm. Chữa ngoại cảm phong nhiệt sinh đau đầu, sởi mọc chậm và không đều, các chứng nhiệt độc, trung khí hư nhược hoặc khí hư hạ hãm. Thăng ma được dùng làm thuốc chữa các bệnh.
Thăng ma, chủ vị trị cảm nhiệt
Thăng ma thanh nhiệt giải độc, là vị thuốc tốt trịsởi, cảm nhiệt.
Thúc sởi, tống độc: Dùng với các chứng nhiệt độc âm ỉ, ban sởi không mọc được, miệng lưỡi phát nhọt.
Bài 1: Thăng ma 12g, phù bình 12g, đậu sị 12g, ngưu bàng tử 8g, liên kiều 8g, cát căn 8g, thuyền thoái 4g. Sắc uống, ngày 1 thang (tùy theo tuổi). Chữa sởi.
Bài 2: Thang Thăng ma cát căn: thăng ma 4g, xích thược 6g, cát căn 12g, cam thảo 2g. Sắc uống. Trị sởi mới chớm nhưng do bế tắc phong hàn sởi mọc không đều; hoặc vì đi tả mà sởi lặn mất không mọc lên được.
Bài 3: Bột Thanh vị: thăng ma 4g, mẫu đơn bì 2g, sinh địa 1,5g, quy thân 1,5g, hoàng liên 1,5g. Sấy khô, tán bột. Hãm hay sắc uống. Trị dạ dày nóng, miệng phát nhọt, lợi lở loét, chảy máu.
Thăng dương, thông tắc: Các trường hợp dương khí hãm xuống, thiếu khí nên ngại nói, tử cung, trực tràng sa xuống.
Bài 1: Thang thăng hãm: hoàng kỳ 20g, thăng ma 4g, tri mẫu 8g, cát cánh 8g. Sắc uống. Trị chứng hơi trong ngực hãm xuống, thiếu hơi.
Bài 2: Thăng ma 12g, ích mẫu thảo 80g, tông thụ căn 100g, quả mộc thông 2 lá 100g. Cho thuốc vào tần với gà mái tơ, chia ăn nhiều lần. Cách một tuần ăn 1 con. Trị sa tử cung.
Bài 3: Bổ trung ích khí thang: nhân sâm 10g, hoàng kỳ 12g, đương quy 8g, bạch truật 8g, thăng ma 6g, sài hồ 6g, trần bì 4g, cam thảo 6g. Bổ tỳ vị, ích khí thăng dương. Trị suy nhược cơ thể, khí hư, sa tử cung, sa trực tràng (lòi dom), tỳ vị suy yếu.
Kiêng kỵ: Khi sởi đã mọc hết, hen suyễn nghịch khí thì kiêng dùng. Vị dược liệu kích thích dễ gây nôn, liều cao gây chóng mặt.

BS. Tiểu Lan